Chư Ni Vãng Sanh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới

I – HUỆ MỘC
Sư Ni Huệ Mộc họ Phó, năm 11 tuổi xuất gia ở chùa tại Tương Quận. Mỗi ngày cô tụng Kinh Đại Phẩm Bát Nhã, thường thấy hiện rất nhiều sự linh dị, Ni cô từng mơ đến Tây phương, thấy trong ao báu có nhiều hoa sen đẹp sáng chói, những người vãng sanh đều ngồi trên hoa. Ít lúc sau cô thỉnh thầy thọ giới Cụ túc. Lúc đương ở giới đàn, cô bỗng thấy trời đất biến thành màu huỳnh kim.

Một hôm, cô cùng chúng lễ A Di Đà Phật, cô mọp nơi đất rất lâu không trỗi dậy. Người đứng gần đạp cô mà hỏi. Cô đáp : “Đương lúc mọp lạy, tự thấy mình đến Cực Lạc thế giới, Đức Phật giảng Tiểu Phẩm Bát Nhã cho tôi nghe, vừa nghe được bốn quyển thời bị đạp mà tỉnh dậy. Tôi lấy làm tiếc quá !”.

Năm Nguyên Gia thứ 14, triều Lưu Tống. Sư Ni Huệ Mộc vãng sanh có nhiều điềm tốt, thọ 69 tuổi.

(Trích ở bộ Pháp Uyển Châu Lâm)


II – PHÁP THẠNH

Ni Sư Pháp Thạnh họ Nhiếp, người Thanh Hà. Năm 70 tuổi xuất gia tại chùa Kiến Phước ở Kim Lăng. Cô bẩm tánh rất thông minh, từng nói với các pháp hữu Đàm Kỉnh, Đàm Ái rằng : “Tôi lập thân hành đạo, chỉ quyết về Tây phương Cực Lạc thế giới mà thôi”.

Năm Nguyên Gia thứ 16, ngày 27 tháng Chín, Ni cô đến dưới tháp lễ Phật, chiều ngày ấy nhuốm bệnh. Đến đêm 30 tháng Chín, cả chùa trong ngoài bỗng sáng rực như ban ngày. Ni cô bảo : “Đó là Đức A Di Đà Phật cùng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí đến, nên sáng như vậy…” Dứt lời Ni cô yên lặng. Chúng lại gần xem, thì ra cô đã đi rồi. Thọ 72 tuổi, cô xuất gia mới được 2 năm.

(Trích ở bộ Tỳ Kheo Ni Truyện)


III – TỊNH CHƠN

Sư Ni Tịnh Chơn người thời nhà Đường, ở chùa Tích Thiện tại Trường An, nạp y không rời thân, luôn đi khất thực. Trọn đời cô tụng Kinh Kim Cang được mười vạn quyển. Hằng ngày cô rất siêng niệm Phật. Một hôm cô bảo các đệ tử rằng : “Trong năm tháng gần đây, tôi mười lần thấy Phật, hai lần thấy Thiên đồng chơi giỡn trên hoa sen báu. Tôi được vãng sanh bậc Thượng phẩm”. Nói xong, cô ngồi kiết già chắp tay mà tịch. Lúc ấy ánh sáng đẹp mát tỏa sáng cả chùa rất lâu mới ẩn.

(Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ)


IV – PHÁP TẠNG

Sư Ni Pháp Tạng, người thời nhà Đường, ngụ ở Kim Lăng, ngày đêm siêng năng niệm Phật. Một đêm nọ, thấy quang minh của Phật và Bồ Tát chiếu sáng cả chùa, Sư Ni chắp tay yên lặng mà mất.

(Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ)

Advertisements

15 responses to this post.

  1. HUỆ AN

    Sư Ni Huệ An, người Minh Châu, trụ am họ Dương ở Tiểu Khê. Trọn đời chuyên tu Tịnh Độ, tụng Kinh Kim Cang, dầu Đông, Hạ cũng không bao giờ sót trễ, Sư Ni thường thấy quang minh của Phật chiếu đến trong thất.

    Một hôm nhuốm bệnh, Sư Ni ngồi ngay thẳng, dặn mọi người không được ồn náo. Một lát sau Sư Ni nói : “Phật đã đến !”. Rồi bảo chúng đồng thanh niệm Phật, còn Sư Ni vẫn ngồi ngay thẳng chắp tay hướng về Tây phương mà tịch, thọ 96 tuổi.

    Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

  2. CHÂU CẨM

    Sư Ni Châu Cẩm, họ Thang, tự Thái Tố. Người Hàng Châu, vốn là vợ Trầm Giáo Thọ, chính là Liên Trì Đại sư vậy. Ngày Trầm Giáo Thọ đi xuất gia, Châu Cẩm mới 19 tuổi. Có người xúi cô ngăn trở. Cô bảo : “Không nghe va mỗi ngày luôn mồm nói “sanh tử sự đại” đó sao ? Nếu ngăn trở va tức là làm hại va, mà mình cũng bị tổn đức. Không nên !”. Đến năm 47 tuổi cô xuất gia thọ Cụ túc giới. Cô giữ gìn giới hạnh rất tinh nghiêm, siêng tu Tịnh Độ, chuyên niệm Phật và lễ sám.

    Năm Vạn Lịch thứ 42, có bệnh, lúc sắp mất cô bảo thị giả rằng : “Kinh nói thập niệm vãng sanh, mau đỡ tôi dậy !”. Rồi Sư Ni đoan tọa hướng về Tây phương chắp tay niệm Phật mà đi, thọ 67 tuổi.

    Trích ở bộ Hiếu Nghĩa Am Lục

  3. QUẢNG GIÁC

    Sư Ni Quảng Giác, họ Cung, người Tô Châu. Lúc còn ở tục, cô ăn chay trường từ khi 12 tuổi, mỗi ngày trì tụng Kinh chú, siêng lễ Phật, tự thệ không lấy chồng. Đến năm 28 tuổi xuất gia rồi ở tu tại am Hiếu Nghĩa ở Hàng Châu. Cô gìn giữ giới hạnh rất tinh nghiêm tinh tấn chuyên tu không quản khổ nhọc.

    Về sau nhuốm bệnh, cô từ thuốc men, nhứt tâm chờ chết. Đương lúc nằm thở thoi thóp, cô bỗng vụt trỗi dậy ngồi kiết già xoay mặt về hướng Tây. Am Chủ dọn bàn thiết tượng A Di Đà ở trước mặt cô. Cô mở mắt nhìn chăm tượng Phật và chắp tay quý kính. Rồi cô rửa tay thay đổi y áo, cầm chuỗi đối tượng Phật mà ngồi ngay thẳng, yên lặng như nhập định. Thị giả sợ cô nghiêng ngã, mới lấy hai cái gối to kê đỡ, cô khoát tay bảo đừng. Chúng trong am đến chung quanh mà niệm Phật, cô nói : “Không dám làm phiền nhọc đại chúng, tôi tự có chủ trương !”. Cô cứ ngồi kiết già ngay thẳng như thế mà niệm Phật nho nhỏ luôn cả hai ngày đêm vẫn không cựa động và không dứt tiếng niệm. Mãi đến lúc hơi mòn tiếng bặt, mọi người lại gần xem thì cô đã tịch rồi. Nhằm mùng 7 tháng Hai năm Vạn Lịch thứ 39 triều Minh. Bấy giờ cô được 33 tuổi.

    Trích ở bộ Hiếu Nghĩa Am Lục

  4. THÀNH TỊNH

    Sư Ni Thành Tịnh, tự Thiệt Tu, người Quảng Châu, ăn chay giữ giới từ thuở bé. Sau khi xuất gia thọ Cụ túc giới ngày đêm cô niệm Phật không ngớt. Cô từng khuyên hóa đại chúng chung sức nhau trổ tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi bằng gỗ Chiên đàn. Ngót một năm tượng mới tạc thành, mà cô cũng vừa nhuốm bệnh. Cô tự biết trước ngày giờ. Đến kỳ cô nói với đại chúng rằng : “Đức Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát đến rước tôi !”. Dứt lời cô nhắm mắt mà tịch.

    Trích ở bộ Quan Âm Từ Lâm Tập

  5. TRIỀU ÂM

    Sư Ni Triều Âm, họ Kim, người Thường Thục, dâu họ nhà Cũng. Chồng chết sớm, cô ở góa thủ tiết, rồi cùng con trai là Đoan Ngô đồng phát tâm xuất gia. Khi Đoan Ngô đã làm Tăng, cô cũng qua Tô Châu lễ Sư Ni Chơn Như cầu thế độ. Sau khi thọ Ni giới, cô trở về làng thuê nhà ở tu, ngày đêm sáu thời tiếng niệm Phật lảnh lót.

    Một hôm nhuốm bệnh nhẹ, cô tắm gội đắp y rồi ngồi vững ở giữa nhà. Chiều đến cô nói : “Giờ Hợi thì tôi đi !”. Đến giờ cô vẫn ngồi an tại chỗ, thâu tay vào áo mà tịch, thọ 73 tuổi. Lúc ấy nhằm năm Thuận Trị nhà Thanh.

    Trích ở Triều Âm Sự Lược

  6. LÃO NI

    Hồ Thượng Lão Ni tinh nghiêm giới luật, hằng ngày niệm Phật tụng kinh rất thành khẩn. Có một Đạo nhơn mỗi năm đến viếng am một lần, khi đến cùng Lão Ni luận việc đạo hạnh tu hành suốt ngày mới từ đi.

    Một hôm, Lão Ni hẹn trước với Đạo nhơn. Đến ngày hẹn chờ không thấy Đạo nhơn tới, Lão Ni nói : “Tôi sắp về Tịnh Độ muốn từ biệt ông bạn ấy”. Chờ thêm vài ngày, Đạo nhơn vẫn không đến. Lão Ni bảo người khiêng cái khánh đã đóng sẵn để trên cây cầu gãy ở gần am. Lão Ni tay cầm một cây nhang nhỏ, ung dung vào ngồi trong khánh lên tiếng niệm Phật. Giây lát lửa vụt phát cháy nơi thân Lão Ni. Người tựu đến xem đông như hội chợ. Mãi đến lúc cả mình cháy đen cả mà tiếng niệm Phật của Lão Ni vẫn chưa dứt.

    Trích ở tập Âm Chất Văn Chú Thích, của Hà Sĩ Viên

  7. TOẠI KHÂM

    Sư Ni Toại Khâm, người Vô Tích, xuất gia thuở mới lên chín. Khi tuổi trưởng thành, gặp một Sư Ni khuyến khích chuyên trì hồng danh của Phật, cô liền phát tâm tinh tấn niệm Phật. Ít lúc sau, cô làm trụ trì am Bạch Y ở Tô Châu, công phu niệm Phật càng chí thiết đến 50 tuổi, cô mới thọ Cụ túc giới.

    Tháng Ba năm cô được 55 tuổi, một đêm nọ, gà vừa gáy hiệp đầu, cô kêu đệ tử đến mà nói : “Tôi sắp về Phật !”. Các đệ tử đều khóc thưa : “Thầy không bệnh hoạn chi, sao lại nỡ nói như thế !”. Cô bảo : “Sao ngu si thế ! Khóc lóc có ích lợi gì. Nên tinh tấn niệm Phật thôi !”. Rồi cô ngồi kiết già xoay mặt về hướng Tây cùng các đệ tử đồng thanh niệm Phật, khi tàn một cây hương thời cô tịch. Bấy giờ nhằm năm Càn Long thứ 53.

    Trích ở Tây Phương Công Cứ Tập Nghiệm

  8. LUẬT TÔN

    Ni Sư Luật Tôn người Gia Định, ba tuổi mẹ mất, bà nội dắt cô đến am Viên Thông lễ Phật, cô đòi quyết ở lại đó. Lúc bé cô thích lễ Phật. Lớn lên chuyên tụng Kinh Pháp Hoa nhưng khổ nỗi không rõ nghĩa. Cô bèn đến Kim Sơn và Sùng Phước tham cứu mấy năm. Sau khi trở về am Viên Thông, cô chuyên tâm niệm Phật. Mỗi năm cô thường đến các tòng lâm cúng Phật trai Tăng.

    Năm 53 tuổi, mang bệnh ho, cô cấm túc chuyên tu, lấy vãng sanh làm hẹn.

    Rằm tháng Giêng năm 64 tuổi, cô họp chúng đồng thanh niệm Phật, đến mặt trời chính bóng, cô ngó chúng tha thiết khuyên bảo dũng mãnh tu hành, rồi cô chắp tay ba lần xướng “Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật”. Xướng xong, cô đoan tọa mà tịch. Lúc đó hương sen thơm ngát cả am. Bấy giờ nhằm năm Càn Long thứ 55.

    Trích ở Tây Phương Công Cứ Tập Nghiệm

  9. PHẬT KỲ VÀ LIÊN HƯƠNG

    Sư Ni Phật Kỳ, người Thường Châu. Từ nhỏ cô chẳng chịu lấy chồng. Lớn lên mẹ cô đưa đến am Vũ Hoa xuống tóc, rồi thọ Cụ túc giới. Về sau, cô trụ trì am Sùng Phật ở trong thành. Cô quyên tiền trổ tượng Tây phương Tam Thánh bằng gỗ chiên đàn cao 8 thước. Mỗi năm cô thỉnh chư Sư Tăng giới đức thanh tịnh đến am kiết thất kỳ, làm hội niệm Phật. Cô thường đi đến các tòng lâm cúng Phật và trai Tăng. Cô tậu 30 mẫu ruộng để làm của thường trụ cho chùa Thiên Ninh ở Thường Châu. Về sau cô cấm túc nơi am chuyên tu tịnh nghiệp.

    Trước khi tịch ba ngày, cô thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân với hai vị đồng tử theo hầu. Trong khi đó có người nói là nghe mùi hoa cúc. Cô bảo đó là hương của hoa sen xanh. Ngày 30 tháng Tám, năm Càn Long thứ 56, có Ưu bà di đến thăm, cô bảo đỡ cô ngồi dậy, rồi họp Ni chúng niệm Phật được chừng hai nghìn câu thời cô tịch.

    Trích ở Tây Phương Công Cứ Tập Nghiệm


    Mục kích cô Phật Kỳ chánh niệm vãng sanh. Sư Ni Liên Hương phát tâm tinh tấn niệm Phật. Năm cô được 30 ngoài tuổi, dầu bệnh, nhưng sức niệm Phật của cô càng bền. Một ngày nọ, cô xoay mặt về hướng Tây đoan tọa chắp tay niệm Phật mà tạ thế. Bấy giờ nhằm năm Gia Khánh thứ 13.

    Trích ở Nhiễm Hương Tập

  10. LÃNG NHIÊN

    Sư Ni Lãng Nhiên, người Gia Thiện, năm 18 tuổi, cô thấy sự khổ của người chị dâu bị sản nạn, cô tự thệ không lấy chồng, rồi cô xin với cha mẹ cho xuất gia ở am Tịnh Trì. Sau khi thọ giới, cô chuyên chí tu Tịnh độ. Tinh tấn niệm Phật trong nhiều năm, được niệm lực tương tục, lúc rảnh lúc bận, nơi tâm cô câu Phật đều không gián đoạn.

    Năm Gia Khánh thứ 13, cô bảo đệ tử là Sư Ni Phước Duyên rằng : “Trong ba tháng gần đây, tôi ba phen mơ thấy mình ngồi kiết già trong hoa sen nơi bảo trì. Tôi sắp vãng sanh ! Con phải dốc chí niệm Phật. Nhơn thiệt thời tự nhiên quả chắc, công phu không luống uổng. Gắng nhớ chớ quên !”. Ngày 25 tháng 3, cô không bệnh, đoan tọa mà tịch, thọ 71 tuổi.

    Trích ở Nhiễm Hương Tập

  11. DIỆU THÀNH

    Sư Ni Diệu Thành, con của họ Hà ở Hồ Châu. Cô bẩm tánh thông minh. Mẹ cô phụng Phật. Lúc còn thơ bé, mỗi khi thấy mẹ lễ Phật và niệm Phật, cô liền chắp tay niệm theo mẹ. Năm 21 tuổi, về làm dâu nhà họ Vương. Chưa đầy nửa năm, chồng chết. Cha chồng vốn là một cư sĩ ăn chay niệm Phật. Nhà chồng nghèo, cô phải làm để cung phụng cha mẹ chồng. Sáng sớm và tối, cô tụng Kinh Hoa Nghiêm, niệm Phật, định làm thời khóa thường ngày, trải qua hơn mười năm như vậy. Về sau cha chồng xuất gia làm Sư Tăng, mẹ chồng qua đời, cô bèn đến xuất gia làm Ni tại am Quảng Nghiêm. Sau khi thọ Cụ túc giới, cô giữ gìn giới hạnh tinh nghiêm, càng chuyên chí tụng Kinh niệm Phật.

    Năm Gia Khánh thứ 19, triều Thanh, cô nhuốm bệnh sơ sài, bảo chúng rằng : “Tuổi đời của tôi đã mãn, ba ngày sau tôi sẽ về Tây phương. Đại chúng nên gắng sức tu trì, sau này hoặc còn được có lúc gặp nhau. Chớ quên lời dặn của tôi !”. Đến ngày thứ ba, giữa lúc cô đoan tọa niệm Phật, cô bỗng ngước đầu lên nói : “Đức A Di Đà Phật đã đến rước, tôi xin đi !”. Dứt lời cô liền nhắm mắt mà tịch, được 47 tuổi.

    Trích ở Nhiễm Hương Tục Tập

  12. ĐẠO CÀNG

    Sư Ni Đạo Càng, họ Trần, tự Thế Thiền, người Gia Hòa. Năm 17 tuổi, cô xuất gia tại La Am ở Tú Châu. Tánh cô thích ở riêng vắng vẻ. Cô xem chuyện cơ duyên của Cổ đức, bèn phát chí hướng thượng. Sau khi thọ Cụ túc giới, cô đến chùa Quốc Thanh ở Thiên Thai, tham thiền lý nơi Bửu Lâm Đại sư. Khi ra mắt Đại sư, cô liền hỏi : “Thế nào là đại nhơn tướng ?”. Đại sư bảo : “Chờ lúc người trừ bỏ ngũ chướng đã, ta sẽ nói cho”([2]). Cô nói : “Dữ hôn ! Thế thời đã gạt Hòa thượng đấy !”. Đại sư bảo : “Người học ở đâu được cái thứ hư đầu thiền ấy thế ?”. Cô bất giác toát mồ hôi ướt cả lưng, thoạt nhiên tỏ ngộ, bèn đảnh lễ. Đại sư gạn trở lại : “Thế nào là đại nhơn tướng ?”. Cô liền giăng thẳng hai tay ra. Đại sư ấn khả.

    Cô đã được tỏ lý, không đi tham học nữa, ở một am tranh nơi Nam Hồ. Am ấy dột rách, mà cô vẫn ở an. Ngôn hạnh chơn thật, cảnh thuận cảnh nghịch không động lòng. Lễ Hoa Nghiêm Kinh, một chữ một lạy, được mãn ba bộ, tụng Đại Phẩm Bát Nhã được vài mươi bộ. Lần lần đạo hạnh của cô truyền lan, thí chủ vân tập. Không bao lâu mà bên am tranh dột rách, những điện đường đồ sộ đã lạc thành. Cô lập Niệm Phật đường họp chúng niệm Phật, gần bốn mươi năm, ngày đêm tiếng chuông tiếng mõ không ngớt. Cô từng có bài kệ tự thuật :

    “Học đạo chuyên cần năm lại năm
    Từ nay chẳng chấp có cùng không
    Về nhà mựa chớ ngồi nhà mãi
    Sốt sắng vì người chủng thiện căn.”

    Mùa Đông năm Gia Khánh thứ 25, cô nhuốm bệnh nhẹ. Ngày 11 tháng 11, cô nói với chúng rằng : “Giờ Dần ngày mai, thời tôi đi !”. Đến kỳ, cô nói kệ rằng :

    “Tám mươi tám năm, không tham không luyến
    Nay trở về nhà, nước trong trăng hiện.”

    Rồi cô bảo chúng đồng thanh niệm Phật. Giây lát cô nghiêng mặt bên hữu mà tịch.

    Ôi ! Có Thiền có Tịnh, lại hiện nơi nữ lưu. Hy hữu thay !

    Trích ở Nhiễm Hương Tập

  13. LAN NHÃ

    Sư Ni Lan Nhã, họ Trần, người Ninh Quốc. Chồng cô xuất gia làm Tăng ở chùa Tây Thiên. Cô cũng xuất gia làm Ni ở am Tam Thừa. Ít lúc sau cô qua ở am Lan Nhã nhơn đó mà được tên. Ban ngày cô tùy Ni chúng lo việc am. Ban đêm cô riêng đoan tọa niệm Phật. Cô thích khổ hạnh, ăn mặc đạm bạc. Anh ruột của cô có lúc gửi cơm áo đến cho, cô từ mà nói rằng : “Tôi đã xuất gia, nếu thường cùng anh em qua lại, thời khác gì tại gia”.

    Về sau cô vô bệnh, đoan tọa niệm Phật mà vãng sanh. Nhằm tiết nóng nực, đến bảy ngày mà thây cô không sình hôi.

    Trích ở Nhiễm Hương Tập

  14. ĐẠO NGỘ

    Sư Ni Đạo Ngộ, tự Huệ Tâm, họ Uông, người Tống Giang. Cha mất sớm, không anh em, cô cùng ở với mẹ và bà nội. Nhà nghèo lắm, cô không lấy chồng, sớm tối phụng dưỡng mẹ và bà. Ít lâu sau cô xuất gia tại am Kiết Tường, rồi qua Địa Tạng Viện thọ Cụ túc giới, ngày đêm tinh tấn niệm Phật.

    Tháng Sáu năm Đạo Quang thứ 13, mẹ cô niệm Phật mà mất. Cách bảy ngày, bà nội cũng qua đời. Đến mùng năm tháng Tám, cô thỉnh Đạo Sanh Hòa thượng mà bạch rằng : “Việc lớn đã xong, con muốn về Tịnh Độ, xin Hòa thượng sắm cho con một cái khánh và ngày mai nhờ chúng niệm Phật một ngày để giúp con vãng sanh”. Chiều hôm ấy cô tắm gội sạch sẽ. Sáng ngày chúng họp niệm Phật suốt một ngày. Đến tối cô bảo mọi người : “Đức Phật đến tiếp dẫn tôi !”. Rồi cô ngồi kiết già mà tịch.

    Trích ở bộ Thánh Hiền Lục Tục Biên

  15. NHƯ TRÍ

    Sư Ni Như Trí, hiệu Lễ Tuyền, họ Vương, người Kinh Triệu, cô ăn chay từ thuở bé, thích nghe tụng Kinh niệm Phật. Thấy người chị họ xuất gia ở núi tu hành, cô ham mộ lắm, song vì cha mẹ quá yêu, nên cô chưa dám nói. Cô thường lên núi ở với chị, đội củi, gánh nước, ăn tương rau.

    Năm 18 tuổi, cô mang bệnh nặng, thuốc men vô hiệu. Trong lúc hôm mê, cô chỉ đòi cạo tóc xuất gia, chớ không nói chi khác. Vì quá lo sợ, nên cha mẹ cô đặt bàn hương án, nguyện cùng Phật gia hộ cho cô được lành mạnh, và hứa sẽ cho cô xuất gia. Bệnh cô tự nhiên giảm lần, ít hôm là cô được mạnh. Năm 21 tuổi, cô cầu Đồng Bảo Lão Hòa thượng thế độ, rồi mùa Đông năm ấy cầu thọ giới. Sớm tối cô lễ sám học luật rất chuyên cần, bỗng bệnh xưa phát lại, cô gượng bệnh thọ Mười giới. Giới sư thương xót, bảo cô về chùa điều dưỡng, chờ lành mạnh sẽ thọ Cụ túc giới.

    Về đến chùa, bệnh nặng thêm không thể chữa, nhưng cô vẫn luôn niệm Phật không ngớt tiếng. Một hôm, cô mở mắt ngó lên hư không và chắp tay, miệng to tiếng ba lần xưng Quan Thế Âm Bồ Tát, đồng thời xá ba xá rồi cô yên lặng mà qua đời. Bấy giờ nhằm ngày 17 tháng 11 năm Dân Quốc thứ 8.

    Trích ở tập Cận Đại Vãng Sanh Tập

Đã đóng bình luận.

%d bloggers like this: